My default image

Category Archives: Thông tin kỹ thuật

TUYỂN DỤNG THÁNG 12

Công ty TNHH Minh Tân (Mitavet) được thành lập năm 2002; theo giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh lần đầu ngày 08 tháng 08 năm 2002, và thay đổi lần thứ 12 ngày 23 tháng 11 năm 2018 do Phòng đăng kí kinh doanh thuộc Sở Kế hoạch và đầu tư TP. Cần Thơ cấp. Trụ sở chính của công ty đặt tại Lô 30A3-5, KCN Trà Nóc, TP. Cần Thơ. Ngành nghề, hoạt động sản xuất kinh doanh chính là sản xuất Premix, vitamin bổ sung cho gia súc, gia cầm, các sản phẩm dinh dưỡng và xử lý nước dùng cho nuôi trồng thủy sản.

Do nhu cầu phát triển kinh doanh, Công ty chúng tôi cần tuyển:

Nhân viên kinh doanh – nhân viên kỹ thuật:  Số lượng 10 người

(8 người thị trường tôm + 2 người thị trường cá)

a/ Điều kiện dự tuyển:

    • Nam; tốt nghiệp Trung cấp, cao đẳng,  đại học chuyên ngành Nuôi trồng thủy sản hoặc Bệnh học thủy sản.
    • Kỹ năng giao tiếp –  thuyết phục tốt.
    • Sinh viên mới tốt nghiệp được đào tạo các kỹ năng chuyên môn kỹ thuật
    • Làm việc tại một trong các tỉnh Đồng bằng sông cửu long.

b/ Quyền lợi:

    • Được hưởng đầy đủ các quyền lợi theo pháp luật lao động.
    • Thu nhập gồm : Lương cơ bản + Thưởng doanh số (± 15 triệu/tháng đến 21 triệu/tháng).

Gửi bản tóm tắt quá trình học tập và kinh nghiệm làm việc qua email: nguyenthanhhungmitavet@gmail.com

Công ty sẽ gọi phỏng vấn khi nhận được hồ sơ đạt yêu cầu. Thời gian nộp hồ sơ đến hết ngày 10/ 01/ 2020, bắt đầu làm việc từ tháng 1/2020 hoặc sau tết âm lịch 2020.


TUYỂN DỤNG

Công ty TNHH Minh Tân (Mitavet) được thành lập năm 2002; theo giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh lần đầu ngày 08 tháng 08 năm 2002, và thay đổi lần thứ 12 ngày 23 tháng 11 năm 2018 do Phòng đăng kí kinh doanh thuộc Sở Kế hoạch và đầu tư TP. Cần Thơ cấp. Trụ sở chính của công ty đặt tại Lô 30A3-5, KCN Trà Nóc, TP. Cần Thơ. Ngành nghề, hoạt động sản xuất kinh doanh chính là sản xuất Premix, vitamin bổ sung cho gia súc, gia cầm, các sản phẩm dinh dưỡng và xử lý nước dùng cho nuôi trồng thủy sản.

Do nhu cầu phát triển kinh doanh, Công ty chúng tôi cần tuyển:

1.Quản lý kỹ thuật vùng: Số lượng 1 người

a/ Điều kiện dự tuyển:

    • Tốt nghiệp Đại học các ngành Nông học, Nuôi trồng thủy sản, Bệnh học thuỷ sản.
    • Có kinh nghiệm về quy trình nuôi tôm thâm canh và nuôi tôm ao lót bạt.
    • Chấp nhận công tác xa nhà.

b/ Quyền lợi:

    • Được hưởng đầy đủ các quyền lợi theo pháp luật lao động.
    • Thu nhập cao (thỏa thuận khi phỏng vấn).

2. Nhân viên kinh doanh – nhân viên kỹ thuật:  Số lượng 10 người

a/ Điều kiện dự tuyển:

    • Nam; tốt nghiệp Trung cấp, cao đẳng,  đại học chuyên ngành Nuôi trồng thủy sản hoặc Bệnh học thủy sản.
    • Kỹ năng giao tiếp –  thuyết phục tốt.
    • Sinh viên mới tốt nghiệp được đào tạo các kỹ năng chuyên môn kỹ thuật
    • Làm việc tại một trong các tỉnh Đồng bằng sông cửu long.

b/ Quyền lợi:

    • Được hưởng đầy đủ các quyền lợi theo pháp luật lao động.
    • Thu nhập gồm : Lương cơ bản + Thưởng doanh số (± 15 triệu/tháng).

Gửi bản tóm tắt quá trình học tập và kinh nghiệm làm việc qua email: nguyenthanhhungmitavet@gmail.com

Công ty sẽ gọi phỏng vấn khi nhận được hồ sơ đạt yêu cầu. Thời gian nộp hồ sơ đến hết ngày 30/ 11/ 2019, phỏng vấn đầu tháng 12/ 2019, bắt đầu làm việc đầu năm 2020.


Nhận diện ngành tôm Việt: qua công cụ phân tích SWOT

SWOT là tập hợp viết tắt những chữ cái đầu tiên của các từ tiếng Anh: Strengths (Điểm mạnh), Weaknesses (Điểm yếu), Opportunities (Cơ hội) và Threats (Thách thức) – là một công cụ nổi tiếng trong phân tích các vấn đề từ nhỏ tới lớn trong các lĩnh vực, nhằm xác định hiện trạng; đề ra chiến lược, hướng đi, giải pháp… đưa vấn để quan tâm đạt những thành quả tốt hơn.
Chiếu theo các nội dung công cụ trên, ngành tôm Việt có những điểm lợi và bất lợi như sau:

1.Điểm mạnh (Strengths)- Diện tích đất ngập mặn hàng triệu hecta, tạo nguồn dồi dào phát triển nuôi tôm.
– Ngành nuôi tôm phát triển khá sớm, hình thành một lực lượng người nuôi biết nghề khá đông đảo.
– Ngành chế biến tôm tuy đi sau nhiều nước nhưng nay đã vươn lên tầm cao thế giới.
– Các cơ sở cấu thành chuỗi giá trị con tôm phát triển khá đồng bộ như thức ăn, con giống, chế phẩm nuôi tôm…
– Người lao động cần mẫn, chăm chỉ phù hợp với việc chế biến đòi hỏi tính tỉ mỉ cao.

2.Điểm yếu (Weaknesses)
– Việc nuôi tôm đa phần nhỏ lẻ, khó kiểm soát làm tăng rủi ro, tăng chi phí kiểm tra.
– Giá thành tôm nuôi và tôm chế biến cao, do đầu vào cao và tỉ lệ ao nuôi đạt chưa cao.
– Hạ tầng cơ sở nuôi thiếu và chưa đồng bộ.
– Diện tích ao nuôi đạt chuẩn cao như ASC, BAP còn quá ít, chỉ hơn 1% diện tích nuôi tôm!
– Đa phần tôm bố mẹ phải nhập khẩu.
– Ngành tôm Việt chưa có thương hiệu xứng tầm.

3. Cơ hội (Opportunities)
– Xu thế người tiêu dùng trên thế giới chuyển sử dụng thực phẩm thủy sản nhiều hơn là thực phẩm từ động vật trên cạn.
– Nhiều hiệp định tự do thương mại đã và chuẩn bị ký kết sẽ mở rộng cửa cho việc tiêu thụ, quan trọng nhất là EVFTA vừa ký kết.
– Công nghệ phát triển, cơ hội quản trị hữu hiệu và tăng năng suất.
– Biến đổi khí hậu có lợi cho nuôi tôm, là cơ hội thúc đẩy tăng trưởng toàn ngành.
– Chính phủ quan tâm phát triển ngành tôm như qua NĐ57 (17/4/2018) Khuyến khích sản xuất trong nông nghiệp; NĐ98 (5/7/2018) Tham gia tiêu thụ nông sản…

4. Thách thức (Threats)
– Dịch bệnh trong nuôi tôm luôn tiềm ẩn sẵn sàng bùng phát khi gặp thời tiết thất thường kéo dài.
– Là ngành bị ảnh hưởng không nhỏ từ thời tiết.
– Xu thế thiếu hụt lao động.
– Sự cạnh tranh gay gắt tôm giá rẻ từ Ấn Độ, Ecuador.
– Sự đòi hỏi của người tiêu dùng ngày càng nghiêm ngặt về vệ sinh an toàn thực phẩm, mẫu mã sản phẩm, độ thơm ngon của sản phẩm.
– Hàng rào kỹ thuật ở các nước nhập khẩu ngày càng dầy đặc và gắt gao.
– Thương chiến Mỹ – Trung tạo ra hậu quả không lường nổi, có thể là cơ hội lẫn thách thức đan xen. Thuế chống phá giá tôm ở Hoa Kỳ vẫn đang tiếp diễn, còn rủi ro tiềm ẩn.
– FTA đôi khi có bất lợi trong phạm vi hẹp.
Từ những yếu tố nêu trên, cho thấy điểm MẠNH, YẾU là yếu tố mang tính chất BÊN TRONG ngành tôm, có thể kiểm soát, thay đổi. Còn CƠ HỘI, THÁCH THỨC là yếu tố BÊN NGOÀI khó kiểm soát và thay đổi.

Dựa vào SWOT qua những điểm phân tích trên, để thúc đẩy ngành tôm Việt tăng trưởng từ hai con số, sẽ thấy những yêu cầu, giải pháp trước mắt và lâu dài như sau:
+ Yêu cầu trước mắt lẫn dài hạn là phải tạo ra nguồn tôm sạch có chứng nhận với giá cạnh tranh.
+ Yêu cầu dài hạn phải xây dựng cho được thương hiệu tôm Việt.
Từ yêu cầu đó, hệ thống giải pháp có thể nêu ra là:
• Kiểm soát chặt chẽ chế phẩm nuôi tôm, ngăn chặn từ gốc các nguồn thẩm lậu các hóa chất nuôi tôm không có tên trong danh mục cho phép.
• Sắp xếp lại vùng nuôi, tạo nên các trang trại, hợp tác xã nuôi quy mô lớn theo chuẩn nuôi quốc tế có chứng nhận.
• Đầu tư cơ sở hạ tầng vùng nuôi, tập trung điện, đường, thuỷ lợi.
• Quan tâm hơn tín dụng và bảo hiểm trong nuôi tôm.
• Quan tâm nhân rộng những mô hình nuôi mới, thành công.
• Vận động các thành viên tạo nên giá trị chuỗi con tôm biết chia sẻ lợi ích, cùng tồn tại.
• Chú trọng hơn nữa chương trình gia hóa tôm bố mẹ có nhiều tính trội.
• Vận động các doanh nghiệp chế biến tôm từng bước xây dựng thương hiệu cho mình. Trước mắt phải lấy chữ tín làm hàng đầu trong kinh doanh.
• Hoàn thiện hệ thống trường nghề đào tạo công nhân trong lĩnh vực nuôi và chế biến tôm.

Tóm lại, qua SWOT để tìm thấy vị thế tôm Việt một cách bao quát lẫn cụ thể hơn. Qua đó thấy được việc cần làm gấp, việc cần làm lâu dài…; thấy được sự đồng bộ của các giải pháp để tránh lãng phí… Tất cả để tôm Việt vươn cao, bơi xa hơn.

Tác giả: TS Hồ Quốc Lực – Nguyên Chủ tịch VASEP, Chủ tịch HĐQT FIMEX VN
Nguồn: http://vasep.com.vn/


Hội thảo kỹ thuật tại Trà Vinh – Tháng 4/2019

Được sự cho phép của Chi Cục Thủy Sản tỉnh Trà Vinh, và sự ủng hộ nhiệt tình của Anh Bình – gia chủ và cũng là người đứng ra tổ chức buổi gặp mặt khách hàng vào ngày 6/4/2019, công ty TNHH Minh Tân đã có dịp chia sẻ cùng bà con Trà Vinh một số giải pháp để “Phòng ngừa bệnh gan và đường ruột cho tôm trong giai đoạn giao mùa”. Trong cuộc thảo luận, đại diện kĩ thuật của Công ty cũng đã giải đáp tường tận, rõ ràng các thắc mắc của bà con về các vấn đề thực tế gặp phải trong thời tiết nắng nóng hiện nay như xử lý tảo giáp ao nuôi, xử lí phèn sắt, cách cho ăn khi tôm bệnh .v.v.

Thạc sĩ Lý Minh Quân trình bày cơ chế và chức năng chính của các sản phẩm công ty

Đại diện kỹ thuật công ty TNHH Minh Tân trao đổi cùng bà con các vấn đề kỹ thuật

Đến tham dự là đông đảo bà con, hộ nuôi trong khu vực

Thực hiện: BP. Marketing Mitavet


Khánh thành nhà máy mới lắp đặt dây chuyền đóng gói tự động

Công ty TNHH Minh Tân (Mitavet) được thành lập vào năm 2002. Nhà máy của công ty được đặt tại Khu công nghiệp Trà Nóc, Quận Bình Thuỷ, Thành phố Cần Thơ.
Công ty hoạt động với phương châm “không ngừng cải tiến – tạo nên khác biệt”, luôn hướng tới nhu cầu khách hàng và cải thiện sản phẩm ngày một tốt hơn, sử dụng mọi nguồn lực để xây dựng, duy trì và cải tiến chất lượng phù hợp với tiêu chuẩn chất lượng quốc tế. Theo xu thế hội nhập và phát triển, tháng 05/2018 công ty TNHH Minh Tân đã liên doanh với công ty TNHH Quốc tế Jolink Hồng Kông, thuộc công ty Guangdong Daynew Aquatic để nâng cao năng lực sản xuất và mở rộng thị trường.
Với mong muốn phục vụ nhu cầu của khách hàng ngày càng tốt hơn, hoàn thiện hơn cũng như nâng cao chất lượng sản phẩm, ngày 21/01/2019, công ty TNHH Minh Tân đã long trọng tổ chức buổi lễ khánh thành nhà máy mới với trang bị hệ thống trộn và đóng gói tự động chất lượng cao, đúng với định hướng chất lượng sản phẩm là thước đo giá trị, cũng như sự phát triển lâu dài của công ty.
Có mặt trong buổi lễ khánh thành, công ty TNHH Minh Tân hân hạnh được đón tiếp ông Phạm Trường Yên – Phó GĐ Sở Nông Nghiệp và Phát triển Nông Thôn TP Cần Thơ; PGS TS. Vũ Ngọc Út – Phó trưởng khoa Thuỷ Sản, đại học Cần Thơ; đại diện ban quản lý khu công nghiệp Trà Nóc, đại diện chi cục thuỷ sản Thành phố Cần Thơ, Mr. Junqiao Li – Tổng giám đốc công ty Guangdong Daynew Aquatic, cùng các công ty đối tác, đại lý và khách hàng của Công ty TNHH Minh Tân. Dưới đây là một số hình ảnh của buổi lễ:

Thực hiện: BP. Marketing Mitavet


Hội chợ triển lãm VIV Bangkok 2019

Từ ngày 13 đến 15 tháng 3 năm 2019, công ty TNHH Minh Tân (Mitavet) vinh dự được đồng hành cùng công ty quốc tế Jolink và công ty TNHH Daynew tham dự hội chợ triển lãm VIV Châu Á – Hội chợ triển lãm các ngành hàng nông nghiệp (bao gồm cả thuỷ sản) – tại toà nhà BITEC, thủ đô Băng Cốc, Thái Lan.

Với hơn 15 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực kinh doanh và sản xuất các sản phẩm premix, dinh dưỡng và xử lý nước dùng trong nuôi trồng thuỷ sản; gian trưng bày của Mitavet thu hút được sự quan tâm lớn từ nhiều khách hàng quốc tế: Bangladesh, Ấn Độ, Indonesia, Phillipines, Pakistan, Nga và Mỹ…

Với định hướng chất lượng sản phẩm là thước đo giá trị cũng như sự phát triển lâu dài, từ đầu năm 2019, Mitavet đã đưa vào sử dụng hệ thống trộn và đóng gói tự động chất lượng cao. Cùng với Jolink và Daynew, Mitavet luôn không ngừng tìm tòi, nghiên cứu, cải tiến nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo sự khác biệt và trở thành sự lựa chọn số một của nhà chăn nuôi.

Quang cảnh triển lãm VIV 2019

Ông Trần Kiếm Phong (Jeffrey Chen) – Giám đốc điều hành Mitavet chụp ảnh cùng thành viên Daynew và Jolink

Đối tác đến từ Bangladesh

Khách hàng đến từ Ghana

Khách hàng đến từ Kuwait

Thực hiện: BP. Marketing Mitavet


Xuất Khẩu Thuỷ Sản Lập Kỷ Lục 8,3 Tỷ USD

Theo báo cáo mới nhất của Bộ NN&PTNT, giá trị xuất khẩu thủy sản tháng 12/2017 ước đạt 714 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu thủy sản năm 2017 ước đạt 8,32 tỷ USD, tăng 18% so với cùng kỳ năm 2016.

Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc và Hàn Quốc là 4 thị trường nhập khẩu hàng đầu của thủy sản Việt Nam, chiếm 55,3% tổng giá trị xuất khẩu thủy sản. Các thị trường có giá trị xuất khẩu thủy sản tăng mạnh là Trung Quốc (64,4%), Hà Lan (48,6%), Anh (36,4%), Hàn Quốc (29,1%), Canada (22,3%) và Nhật Bản (20%).

Cũng trong tháng 12/2017, ước giá trị nhập khẩu mặt hàng thủy sản đạt 152 triệu USD, đưa giá trị nhập khẩu thủy sản năm 2017 đạt 1,45 tỷ USD, tăng 30,4% so với cùng kỳ năm 2016.

Theo Hiệp hội Chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP), đóng góp lớn nhất vào kim ngạch xuất khẩu thủy sản vẫn là mặt hàng tôm với mức tăng trưởng trên 21% với giá trị xuất khẩu đạt 3,8 tỷ USD.

Tiếp đến là cá tra đạt gần 1,8 tỷ USD, dù gặp khó khăn ở nhiều thị trường lớn nhưng tổng cộng vẫn tăng gần 4% so với năm 2016.

Xuất khẩu cá ngừ và mực, bạch tuộc đều có khả năng chạm mức gần 600 triệu USD, tăng lần lượt 16% và 42% so với năm 2016.

Đáng chú ý trong xuất khẩu thủy sản năm 2017 là việc Trung Quốc đã vượt Mỹ trong tốp thị trường nhập khẩu cá tra và tôm của Việt Nam.

Tại thị trường trong nước, giá cá tra nguyên liệu tại Đồng bằng sông Cửu Long trong tháng 12/2017 tiếp tục vững giá ở mức cao, dao động từ 27.000 – 29.000 đồng/kg tùy theo chất lượng, kích cỡ và phương thức thanh toán.

Trong khi đó, giá tôm nguyên liệu có xu hướng ổn định đến giảm nhẹ ở một số kích cỡ kể từ cuối tháng 11/2017 do nguồn cung ổn định và nhu cầu nhập khẩu của các thị trường lớn như EU và Mỹ giảm sau khi đã gần như hoàn tất các đơn đặt hàng cuối năm.

Cụ thể, tại Sóc Trăng, Bạc Liêu, giá tôm sú loại 20 con/kg được các thương lái và nhà máy thu mua với giá khoảng 240.000 – 245.000 đồng/kg; cỡ 30 và 40 con/kg ở mức 140.000 – 190.000 đồng/kg; giá tôm thẻ ướp đá cỡ 50 – 60 con/kg dao động 120.000 – 128.000 đồng/kg.


Khả Quan Chất Lượng Giống Thủy Sản

Giám sát chặt chẽ

Xác định con giống là đầu vào quan trọng, quyết định đến thắng lợi của vụ nuôi, nên ngay từ đầu năm 2017, Bộ NN&PTNT, Tổng cục Thủy sản và các cơ quan quản lý địa phương đã quan tâm chỉ đạo sát sao; nhiều văn bản hướng dẫn, chỉ đạo công tác quản lý chất lượng giống thủy sản đã được ban hành. Bộ cũng đã tổ chức các đoàn kiểm tra, thanh tra để hướng dẫn, kiểm tra công tác quản lý của địa phương cũng như cơ sở sản xuất giống thủy trong việc chấp hành các quy định liên quan đến quản lý nguồn giống. Trong quá trình thanh, kiểm tra, đã phát hiện và xử phạt nghiêm đối với một số cơ sở vi phạm điều kiện sản xuất, kinh doanh; đồng thời công khai rộng rãi thông tin các cơ sở vi phạm trên website của Tổng cục Thủy sản và các cơ quan thông tấn báo chí.

Ngoài ra, Tổng cục Thủy sản cũng triển khai 2 đoàn công tác kiểm tra, truy xuất nguồn gốc tôm bố mẹ nhập khẩu tại Singapore, Mỹ và cho đăng tải rộng rãi kết quả kiểm tra này. Như vậy có thể thấy rằng, việc kiểm tra, kiểm soát con giống đang ngày càng được quản lý tốt hơn và tạo dựng cơ sở để phát triển ngành thủy sản Việt Nam.

Nỗ lực đáp ứng nhu cầu

Những năm gần đây, sản xuất giống thủy sản của Việt Nam đã đạt được những bước tiến quan trọng, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người nuôi, nhất là với sản xuất giống một số đối tượng nuôi chủ lực như tôm, cá tra, cá rô phi…

Năm 2017, cả nước có hơn 2.422 cơ sở sản xuất giống tôm nước lợ (1.861 cơ sở sản xuất giống tôm sú và khoảng 561 cơ sở sản xuất giống tôm thẻ chân trắng). Sản lượng giống tôm nước lợ ước 125 tỷ con (tôm sú khoảng 35 tỷ và tôm thẻ chân trắng là 90 tỷ), tăng 10,8% so năm 2016.

Về cá tra, nhu cầu giống năm 2017 dao động khoảng 1,9 – 2,2 tỷ con. Đến nay cả nước có 230 cơ sở sản xuất cá tra giống, hơn 4.000 hộ ương dưỡng cá giống với diện tích hơn 2.250 ha, sản xuất khoảng 25 – 28 tỷ con cá bột (hơn 2,2 tỷ cá tra giống), tập trung chủ yếu ở các tỉnh Đồng Tháp, An Giang, Cần Thơ, Tiền Giang và cung cấp đủ cho nhu cầu thả nuôi của người dân. Hơn nữa, trong năm 2017, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã đồng ý chủ trương đầu tư xây dựng Đề án “Liên kết sản xuất giống cá tra 3 cấp chất lượng cao cho vùng ĐBSCL tại An Giang”. Đây sẽ là bước tiến quan trọng trong việc cung cấp con giống cá tra chất lượng cao cho vùng ĐBSCL, góp phần tái tạo ngành hàng cá tra theo hướng bền vững và hiệu quả.

Đối với sản xuất giống cá rô phi, cả nước hiện có 236 cơ sở sản xuất, kinh doanh giống, trong đó có 44 cơ sở có nuôi giữ đàn cá rô phi bố mẹ với khoảng  900.000 cá bố mẹ, sản xuất được 450 triệu con giống, đáp ứng khoảng  50% nhu cầu.

Trách nhiệm không của riêng ai

Trong nuôi trồng thủy sản, con giống bảo đảm chất lượng sẽ giúp vật nuôi thích nghi tốt với môi trường sống, mau lớn, có sức đề kháng tốt với dịch bệnh, từ đó giúp người nuôi có hiệu quả, gia tăng lợi nhuận kinh tế. Tuy nhiên, hiện nay việc bảo đảm nguồn con giống thủy sản chất lượng trên thị trường vẫn còn nhiều hạn chế và bất cập. Biến đổi khí hậu diễn ra ngày càng sâu rộng, ảnh hưởng lớn đến sản xuất thủy sản nói chung, trong đó có sản xuất giống. Một số đối tượng chủ lực xuất khẩu như tôm sú và tôm thẻ chân trắng còn phụ thuộc vào nguồn nhập khẩu và khai thác từ tự nhiên nên khó quản lý về chất lượng. Đi cùng đó là vấn nạn nhiều cơ sở sản xuất kinh doanh giống thủy sản không đảm bảo điều kiện, trốn kiểm dịch… Đây vẫn sẽ là những thách thức lớn cho ngành trong năm 2018.

Tuy công tác quản lý ngày càng được siết chặt hơn, nhưng theo các ngành chức năng, giải quyết bài toán về chất lượng con giống không phải là chuyện “một sớm một chiều”, mà cần phải có sự phối hợp, chung tay của cả toàn ngành. Thời gian tới, Tổng cục Thủy sản sẽ tiếp tục tập trung chỉ đạo quản lý chất lượng giống thủy sản, trong đó chú trọng các đối tượng giống chủ lực như tôm sú, tôm thẻ chân trắng, cá tra, cá rô phi và các đối tượng có giá trị kinh tế. Nỗ lực chủ động các công nghệ sản xuất giống, tránh tình trạng phụ thuộc vào nhập khẩu và khó kiểm soát chất lượng giống. Tổ chức kiểm tra, giám sát chất lượng giống, đặc biệt tăng cường các đoàn thanh tra đột xuất, ngăn chặn các cơ sở sử dụng tôm bố mẹ không rõ nguồn gốc, tôm đầm cho sinh sản cung cấp tôm giống ra thị trường gây thiệt hại cho người nuôi… Song bên cạnh sự vào cuộc của các ngành chức năng, bản thân doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh tôm giống cần phải giữ vững đạo đức và thương hiệu trong kinh doanh; Không ngừng nâng cao năng lực và trình độ công nghệ. Quan trọng hơn, người nuôi phải đặt tầm quan trọng của con giống lên vị trí “số 1”, không “tham” giống giá rẻ trôi nổi, không rõ nguồn gốc trên thị trường, ưu tiên lựa chọn giống ở các cơ sở sản xuất uy tín.

>> Tính đến hết năm 2017, Tổng cục Thủy sản đã công nhận 12 giống thủy sản mới, gồm: Tôm sú dòng Moana; Tôm thẻ chân trắng thế hệ G1; Cá rô phi dòng chọn giống G5; Cá trắng; Cá nheo Mỹ; 4 loài cá tầm; Cá mú Úc; Cá tra dòng chọn giống và tôm thẻ chân trắng G3 Việt – Úc.


Suy Giảm Đồng Bằng Và Tiếng Nói Địa Phương

Suy giảm tài nguyên

Thách thức lớn nhất với ĐBSCL là tình trạng “suy giảm tài nguyên đất và nước”, đơn cử qua số liệu ở TP Cần Thơ, trung tâm của vùng. Câu hát thuở chưa xa “Cần Thơ gạo trắng nước trong – Ai đi đến đó lòng không muốn về”, cho thấy nơi này nước ngọt quanh năm, khí hậu ôn hòa. Thế nhưng, gần đây đã xảy ra nhiều biến động lớn khiến “cuộc sống của người dân và các ngành nghề sản xuất tại TP Cần Thơ bị ảnh hưởng nặng nề”, tham luận của TP Cần Thơ cho biết.

Đó là, sạt lở bờ sông ngày càng nghiêm trọng. Ở TP Cần Thơ giai đoạn 2010 – 2016 có 125 điểm sạt lở, dài 4.463 mét; làm hư hại hoàn toàn 63 căn nhà. Trong 9 tháng đầu năm 2017, đã xảy ra 28 điểm sạt lở, dài 1.583 m.

Lượng mưa trung bình giảm khoảng 200 mm, làm cho lượng mưa hằng năm, từ 2010 đến nay chỉ còn 1.200 – 1.500 mm. Đi kèm là hạn hán và xâm nhập mặn tăng cao, gây trở ngại cho sản xuất nông nghiệp, thủy sản, cung cấp nước sạch và ảnh hưởng đến sản xuất công nghiệp, dịch vụ.

Trước đây, Cần Thơ hầu như không bị ảnh hưởng bởi xâm nhập mặn do cách biển hơn 65 km; nhưng những năm gần đây, xâm nhập mặn đã ảnh hưởng đến nguồn nước ngọt của Thành phố. Tháng 5/2010, độ mặn 1‰ chỉ còn cách trung tâm Thành phố 12 km. Đặc biệt, đầu năm 2016, nồng độ muối trong nước sông Hậu tại cảng Cái Cui cách Biển Đông khoảng 70 km, là 2,057‰. “Đây là hiện tượng bất thường”, tham luận nhấn mạnh.

Về ngập lũ, Cần Thơ xuất hiện một đợt lũ lớn vào năm 2011, mực nước đứng thứ hai trong lịch sử, cao 215 cm, trên mức báo động III là 25 cm. Năm 2013, mặc dù mực nước ở trạm Tân Châu trên thượng nguồn chưa đến mức báo động II thì mực nước tại trạm Cần Thơ lại trên mức báo động III, cao 215 cm. Hiện chưa có nghiên cứu cụ thể nào cho vấn đề này, nhưng có thể thấy chế độ thủy văn đã có sự biến đổi lớn.

Địa phương kiến nghị

Kiến nghị của TP Cần Thơ cũng là tiếng nói chung của cả vùng ĐBSCL: “Tăng cường khai thác bền vững ngành nuôi trồng thủy sản ven biển, phục hồi vùng rừng ngập mặn ven biển và tăng cường trồng và khai thác các giống cây, thủy sản chịu mặn có giá trị, thích ứng với biến đổi khí hậu”. Giải pháp trọng tâm nhấn mạnh đến yếu tố trách nhiệm nội tại: “Cần giảm ngay khai thác nguồn nước ngầm, chống sụt lún đất. Kiểm soát dòng chảy nước ngọt và nước mặn tại các cửa sông nhằm ngăn chặn hiện tượng xâm nhập mặn sâu vào đất liền”.

Lãnh đạo tỉnh An Giang phân tích thêm về thực trạng các đập thủy điện và công trình ngăn dòng chảy chính ở thượng nguồn gây ra hiện tượng “nước đói phù sa”, đất đai không được bồi đắp và bổ sung dinh dưỡng gây bạc màu. Trong đó “nguồn lợi thủy sản tự nhiên bị suy giảm, an ninh nguồn nước của vùng bị đe dọa”. Ở các tỉnh vùng trên của ĐBSCL, sự thiếu hụt phù sa, bùn cát sẽ làm cho tình hình sạt lở diễn biến nhanh hơn, trầm trọng và phức tạp hơn, nguồn nước sẽ tiếp tục bị suy giảm cả về chất lẫn lưu lượng, dòng chảy sẽ thay đổi không theo quy luật làm tình hình khô hạn vào mùa khô trầm trọng hơn, tồi tệ hơn.

Trong kiến nghị về kinh tế, lãnh đạo tỉnh An Giang đề nghị cần nhanh chóng tái cơ cấu lại các ngành trong vùng. Trong đó, “xác định lại vai trò từng tỉnh trong phát triển kinh tế xã hội và xem xét thấu đáo bài toán về an ninh lương thực, không nhất thiết giao chỉ tiêu bảo vệ đất lúa như hiện nay”. Về đầu tư: “Ưu tiên nguồn lực đầu tư cho những vấn đề cấp bách như: xử lý sự cố môi trường, sạt lở bờ sông, bảo vệ các công trình trọng yếu của vùng; đầu tư các công trình trữ nước kết hợp kiểm soát lũ tại các tỉnh thuộc vùng trên”.

Còn lãnh đạo tỉnh Đồng Tháp đề cập vấn đề gắn kết giữa các địa phương trong vùng để tăng khả năng thích ứng. Đó là “gắn kết tiểu vùng Đồng Tháp Mười, liên kết vùng ĐBSCL, hợp tác quốc tế… để có sự đồng bộ trong vấn đề quy hoạch các ô bao, hồ trữ ngọt: tích nước mùa mưa, phục vụ sản xuất mùa khô, chủ động đẩy mặn cho các tỉnh hạ lưu Mê Kông”. Đây là tỉnh nông nghiệp trọng điểm, có diện tích nuôi cá tra và tôm càng xanh lớn nhất vùng, đang đi đầu trong nâng cao chất lượng sản phẩm, Đồng Tháp đề nghị đầu tư theo hướng công nghệ cao. “Hỗ trợ đầu tư hình thành Khu nông nghiệp công nghệ cao cho vùng Đồng Tháp Mười, trong đó giai đoạn đầu tập trung nghiên cứu, sản xuất giống các loại nông sản, thủy sản đặc trưng của vùng và tiến tới sản xuất sản phẩm thương mại”, tham luận của Đồng Tháp.

 

>> Theo thống kê, năm 2017, Việt Nam thiệt hại kinh tế do thiên tai 59.300 tỷ đồng, trong đó thiệt hại từ nuôi trồng thủy, hải sản khá cao. Từ đó, việc phát triển nuôi trồng thủy sản ở ĐBSCL cần rà soát, sớm phê duyệt và tổ chức thực hiện nghiêm quy hoạch nuôi cho phù hợp, gắn với đảm bảo an toàn thiên tai, bảo vệ môi trường, không làm phát sinh dịch bệnh, đảm bảo an ninh, trật tự và chuẩn bị sẵn sàng phương án phòng tránh bão, áp thấp nhiệt đới; ứng dụng công nghệ mới trong sản xuất, nuôi trồng…

Thách Thức Thủy Sản Việt Nam Tại Mỹ

(Thủy sản Việt Nam) – Là một trong những thị trường trọng điểm cho xuất khẩu nông sản Việt Nam, nhưng Mỹ vẫn được dự báo là còn không ít khó khăn nhất là với ngành thủy sản trong năm 2018 này.

Tín hiệu khả quan

Thống kê của Bộ NN&PTNT, kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy, sản tháng 2 năm 2018 ước 2,6 tỷ USD, đưa tổng giá trị xuất khẩu 2 tháng đầu năm đạt 6,1 tỷ USD, tăng 30,2% so cùng kỳ năm 2017. Cụ thể, giá trị xuất khẩu các mặt hàng nông sản chính ước 3,3 tỷ USD, tăng 27,8%; thủy sản ước gần 1,2 tỷ USD, tăng 29,5%; các mặt hàng lâm sản chính ước 1,43 tỷ USD, tăng 28,5%; nhóm các mặt hàng khác đạt 237 triệu USD, tăng 107,1%.

Năm 2017, ngành nông nghiệp ghi nhận mức tăng trưởng khá với hơn 36 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu, tăng 13% so năm 2016,  trong đó  nhiều dấu mốc mới như xuất khẩu thủy sản lần đầu tiên vượt 8 tỷ USD; góp phần đưa thặng dư tuyệt đối của ngành nông nghiệp đạt con số 8,55 tỷ USD, tăng hơn 1,1 tỷ USD so năm 2016, với 10 nhóm hàng xuất khẩu trên 1 tỷ USD.

Theo Hiệp hội Chế biến Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP), Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc và Hàn Quốc vẫn là 4 thị trường nhập khẩu hàng đầu của thủy sản Việt Nam, chiếm 55,3% tổng giá trị xuất khẩu.

Rào cản tại thị trường Mỹ

Tuy thuộc top những thị trường nhập khẩu hàng đầu sản phẩm thủy sản Việt Nam; nhưng xuất khẩu thủy sản nói chung sang thị trường Mỹ dự báo sẽ còn gặp nhiều khó khăn trong năm 2018.

Cụ thể là Chương trình giám sát hải sản nhập khẩu (SIMP) chống lại các hoạt động khai thác hải sản bất hợp pháp (IUU) và gian lận hải sản vào nước này được triển khai từ đầu năm 2018, sẽ khiến thủy sản xuất khẩu sang thị trường này bị kiểm soát nguồn gốc chặt hơn. Chương trình này được thiết lập dành cho 13 loài nằm trong nguy cơ bị đánh bắt trong đó có cá ngừ. Cá ngừ lại là sản phẩm cá biển chủ lực của Việt Nam xuất khẩu vào Mỹ. Việc đưa ra những rào cản kể trên theo VASEP là để các nhà nhập khẩu Việt Nam nhận diện rõ những thách thức mà họ sẽ phải đối mặt trong hoạt động sản xuất chế biến và xuất khẩu của mình. Từ đó cần tuân thủ nghiêm ngặt các quy định một cách có trách nhiệm, bền vững đối với thị trường này.

Mặt khác, thủy sản vẫn là mặt hàng đang chịu nhiều áp lực nhất khi xuất khẩu sang Mỹ; bởi thị trường này liên tục đưa ra các rào cản về thuế chống bán phá giá, chống trợ cấp. Đơn cử, tháng 9/2017, Bộ Thương mại Mỹ (USDC) công bố Kết luận sơ bộ đợt rà soát hành chính thuế chống bán phá giá lần thứ 13 (POR13) đối với sản phẩm cá tra – basa nhập khẩu từ Việt Nam. Theo đó, sau khi Mỹ tiến hành kiểm tra 100% lô hàng cá tra Việt Nam từ ngày 2/8/2017, USDC đã quyết định áp mức thuế 2,39 USD/kg, cao gấp 3 lần mức thuế suất riêng lẻ trong kỳ xem xét hành chính lần thứ 12. Xuất khẩu cá tra sang Mỹ năm 2018 có thể sẽ giảm khoảng 10%. Ngày 12/1/2018, Việt Nam đã đệ trình khiếu nại lên Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), liên quan đến cách Mỹ đánh thuế mang tính trừng phạt các mặt hàng cá fillet Việt Nam vì cho rằng, Mỹ đã vi phạm các quy định của WTO trong cách áp thuế lên cá fillet Việt Nam. Mỹ sẽ có thời gian 60 ngày để giải quyết khiếu nại hoặc Việt Nam có thể yêu cầu WTO phân xử.

Để tháo gỡ những khó khăn trên, Bộ Công thương đang tích cực hỗ trợ các hiệp hội, doanh nghiệp cập nhật thông tin, ứng phó với các vụ việc hàng hóa xuất khẩu bị điều tra áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại, thông tin cảnh báo về cách phòng tránh, xử lý các vụ kiện phòng vệ thương mại nhằm đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của doanh nghiệp. Hiện, Bộ Công thương cũng đang phối hợp cùng Bộ NN&PTNT triển khai các chương trình hành động về an toàn thực phẩm, đặc biệt là tổ chức sản xuất, kinh doanh sản phẩm nông nghiệp, thực phẩm theo chuỗi liên kết giữa người sản xuất với doanh nghiệp và thị trường. Đồng thời, tăng cường nâng cao hoạt động thực thi Luật An toàn thực phẩm, Luật Thủy sản…

Tuy nhiên, cùng với các giải pháp tháo gỡ khó khăn thị trường của các cơ quan chức năng, doanh nghiệp cần có giải pháp nâng cao sức cạnh tranh và chất lượng sản phẩm, đáp ứng yêu cầu về tiêu chuẩn thị trường nhằm giữ vững và mở rộng thị phần xuất khẩu.

>> Năm 2017, Mỹ là thị trường đơn lẻ thứ 3 của Việt Nam, chiếm 17% trên tổng giá trị xuất khẩu sang các thị trường với 1,4 tỷ USD, giảm 2,5% so cùng kỳ năm 2016. Cùng đó, ba mặt hàng thủy sản chính của Việt Nam xuất khẩu sang Mỹ gồm tôm chiếm trên 17%; cá tra 19,3% và cá ngừ trên 23%.


error: Content is protected !!